Lời Chúa hằng ngày: Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (Ga 4,5-42)
Mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.

Bài đọc 1: Xh 17,3-7
Cho chúng tôi nước uống đi.
Bài trích sách Xuất hành.
3 Trong sa mạc, dân khát nước nên đã kêu trách ông Mô-sê rằng : “Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập để làm gì ? Có phải là để cho chúng tôi, con cái chúng tôi, và súc vật của chúng tôi bị chết khát hay không ?” 4 Ông Mô-sê kêu lên cùng Đức Chúa : “Con phải làm gì cho dân này bây giờ ? Chỉ một chút nữa là họ ném đá con !” 5 Đức Chúa phán với ông Mô-sê : “Ngươi hãy đi lên phía trước dân, đem theo một số kỳ mục Ít-ra-en ; cầm lấy cây gậy ngươi đã dùng để đập xuống sông Nin, và đi đi. 6 Còn Ta, Ta sẽ đứng ở đằng kia trước mặt ngươi, trên tảng đá ở núi Khô-rếp. Ngươi sẽ đập vào tảng đá. Từ tảng đá, nước sẽ chảy ra cho dân uống.” Ông Mô-sê đã làm như vậy trước mắt các kỳ mục Ít-ra-en. 7 Ông đặt tên cho nơi ấy là Ma-xa và Mơ-ri-va, nghĩa là thử thách và gây sự, vì con cái Ít-ra-en đã gây sự và thử thách Đức Chúa mà rằng : “Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không ?”
Đáp ca: Tv 94,1-2.6-7a.7b-9 (Đ. c.7b.8a)
Đ.Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !
Người phán : “Các ngươi chớ cứng lòng.”
1Hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa,
tung hô Người là Núi Đá độ trì ta,2vào trước Thánh Nhan dâng lời cảm tạ,
cùng tung hô theo điệu hát cung đàn.
Đ.Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !
Người phán : “Các ngươi chớ cứng lòng.”
6Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục,
quỳ trước tôn nhan Chúa là Đấng dựng nên ta.7aBởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ,
còn ta là dân Người lãnh đạo,
là đoàn chiên tay Người dẫn dắt.
Đ.Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !
Người phán : “Các ngươi chớ cứng lòng.”
7bNgày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !8Người phán : Các ngươi chớ cứng lòng
như tại Mê-ri-ba, như ngày ở Ma-xa trong sa mạc,9nơi tổ phụ các ngươi đã từng thách thức
và dám thử thách Ta, dù đã thấy những việc Ta làm.
Đ.Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !
Người phán : “Các ngươi chớ cứng lòng.”
Bài đọc 2: Rm 5,1-2.5-8
Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng ta, nhờ Thánh Thần Người ban cho ta.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.
1 Thưa anh em, một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. 2 Vì chúng ta tin, nên Đức Giê-su đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay ; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa. 5 Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta. 6 Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta. 7 Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. 8 Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi ; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.
Tin mừng: Ga 4,5-42
5 Khi ấy, Đức Giê-su đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se.
6 Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.
7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy : “Chị cho tôi xin chút nước uống !”
8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn.
9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói : “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?” Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri.
10 Đức Giê-su trả lời : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.”
11 Chị ấy nói : “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống ?
12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.”
13 Đức Giê-su trả lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát.
14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”
15 Người phụ nữ nói với Đức Giê-su : “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.”
16 Người bảo chị ấy : “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.”
17 Người phụ nữ đáp : “Tôi không có chồng.” Đức Giê-su bảo : “Chị nói : ‘Tôi không có chồng’ là phải, 18 vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.”
19 Người phụ nữ nói với Người : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ…
20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này ; còn các ông lại bảo : Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa.”
21 Đức Giê-su phán : “Này chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem.
22 Các người thờ Đấng các người không biết ; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái.
23 Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế.
24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.”
25 Người phụ nữ thưa : “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.”
26 Đức Giê-su nói : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”
27 Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi : “Thầy cần gì vậy ?” Hoặc “Thầy nói gì với chị ấy ?”
28 Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta : 29 “Đến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?”
30 Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.
31 Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng : “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa.”
32 Người nói với các ông : “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết.”
33 Các môn đệ mới hỏi nhau : “Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng ?”
34 Đức Giê-su nói với các ông : “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người.
35 Nào anh em chẳng nói : Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em : Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái !
36 Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng.
37 Thật vậy, câu tục ngữ “kẻ này gieo, người kia gặt” quả là đúng !
38 Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả ; còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ.”
39 Có nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng : ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm.
40 Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày.
41 Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa.
42 Họ bảo người phụ nữ : “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian.”
Giáo lý cho Bài giảng Chúa nhật 3 mùa Chay năm A
WHĐ (11/3/2023) - Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, từ hôm nay, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh thánh của Chúa nhật 3 mùa Chay năm A sự theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.
|
Số 1214-1216, 1226-1228: Rửa tội, tái sinh bởi nước và Thánh Thần Số 727-729: Chúa Giêsu mặc khải Chúa Thánh Thần Số 694, 733-736, 1215, 1999, 2652: Chúa Thánh Thần, nước hằng sống, một hồng ân của Thiên Chúa Số 604, 733, 1820, 1825, 1992, 2658: Thiên Chúa khởi xướng; hy vọng từ Thần Khí Bài Ðọc I: Xh 17, 3-7 Bài Ðọc II: Rm 5, 1-2. 5-8 Phúc Âm: Ga 4, 5-15. 19b-26. 39a. 40-42 |
Số 1214-1216, 1226-1228: Rửa tội, tái sinh bởi nước và Thánh Thần
1214 Bí tích Rửa Tội được gọi theo nghi thức trung tâm mà nó được thực hiện: Rửa (tiếng Hy Lạp là Baptizein) có nghĩa là “chìm xuống”, “dìm xuống.” Việc “dìm xuống” nước tượng trưng cho việc mai táng người dự tòng vào sự chết của Đức Kitô, và từ đó họ bước ra nhờ được sống lại với Người [X. Rm 6,3-4; Cl 2,12], với tư cách là một “thụ tạo mới” (2 Cr 5,17; Gl 6,15).
1215 Bí tích này cũng được gọi là “Phép Rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới” (Tt 3,5), bởi vì bí tích này biểu lộ và thực hiện việc sinh ra bởi nước và Thánh Thần, mà nếu không có việc đó thì “không ai có thể vào Nước Thiên Chúa” (Ga 3,5).
1216 “Phép Rửa này còn được gọi là ơn soi sáng, vì những ai học biết điều này (về giáo lý) thì được soi sáng trong tâm trí” [Thánh Giustinô, Apologia, 1, 61: CA 1,168 (PG 6,421)]. Người được Rửa Tội, vì trong Phép Rửa họ được đón nhận Ngôi Lời là “ánh sáng thật chiếu soi mọi người” (Ga 1,9), nên sau khi “được soi sáng” [X. Dt 10,32], họ trở thành “con cái sự sáng” [X. 1 Tx 5,5] và chính họ là “ánh sáng” (Ep 5,8):
Bí tích Rửa Tội “là hồng ân cao đẹp nhất và kỳ diệu nhất trong các hồng ân của Thiên Chúa… Chúng ta gọi bí tích đó là hồng ân, ân sủng, Rửa Tội, xức dầu, soi sáng, y phục bất hoại, sự tắm rửa của ơn tái sinh, ấn tín và tất cả những gì quý giá nhất. Nó được gọi là hồng ân, bởi vì được ban cho những người trước đó chẳng có gì; là ân sủng, bởi vì được ban cả cho những người tội lỗi; là sự dìm xuống, bởi vì tội lỗi bị chôn vùi trong nước; là xức dầu, bởi vì bí tích này là thánh thiêng và vương giả (như những người được xức dầu); là ơn soi sáng, bởi vì nó sáng ngời và chói lọi; là y phục, bởi vì nó che phủ sự xấu xa của chúng ta; là tắm rửa, bởi vì bí tích này rửa sạch; là ấn tín, bởi vì nó là sự bảo toàn và là dấu chỉ của uy quyền.” [Thánh Grêgôriô thành Nazien, Oratio 40, 3-4: SC 358,202-204 (PG 36,361-364)]
1226 Từ ngày lễ Ngũ Tuần, Hội Thánh đã cử hành và ban bí tích Rửa Tội. Thật vậy, thánh Phêrô tuyên bố với đám đông đang bối rối vì bài giảng của ngài: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu Phép Rửa nhân danh Chúa Giêsu Kitô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được hồng ân là Thánh Thần” (Cv 2,38). Các Tông Đồ và những cộng sự viên của các ngài ban bí tích Rửa Tội cho những ai tin vào Chúa Giêsu: những người Do Thái, những người kính sợ Thiên Chúa và những người ngoại giáo [X. Cv 2,41; 8,12-13; 10,48; 16,15]. Bí tích Rửa Tội luôn gắn liền với đức tin. Thánh Phaolô tuyên bố với viên cai ngục canh giữ ông ở Philípphê: “Hãy tin vào Chúa Giêsu, thì ông và cả nhà sẽ được cứu độ.” Trình thuật kể tiếp: “Lập tức, ông ấy được chịu Phép Rửa cùng với tất cả người nhà” (Cv 16,31-33).
1227 Theo thánh Phaolô Tông Đồ, nhờ bí tích Rửa Tội, tín hữu được hiệp thông vào sự chết của Đức Kitô; họ được mai táng và sống lại với Người:
“Khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người. Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6,3-4) [X. Cl 2,12]. Những người chịu Phép Rửa đã “mặc lấy Đức Kitô” [X. Gl 3,27]. Nhờ Chúa Thánh Thần, bí tích Rửa Tội là Phép Rửa để thanh tẩy, thánh hóa và công chính hóa [X. 1 Cr 6,11; 12,13].
1228 Như vậy, bí tích Rửa Tội là Phép Rửa bằng nước nhờ đó “hạt giống bất hoại” của Lời Chúa đem lại hiệu quả của nó là ban sự sống [X. 1 Pr 1,23; Ep 5,26]. Thánh Augustinô nói về bí tích Rửa Tội: “Lời liên kết với một yếu tố vật chất và nó trở thành một bí tích” [Thánh Augustinô, In Iohannis evangelium tractatus, 80, 3: CCL 36,529 (PL 35,1840)].
Số 727-729: Chúa Giêsu mặc khải Chúa Thánh Thần
727 Toàn bộ sứ vụ của Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong thời gian viên mãn tập trung vào sự kiện Chúa Con là Đấng Được Xức Dầu bằng Thần Khí của Chúa Cha khởi từ cuộc Nhập Thể của Người: Chúa Giêsu là Đức Kitô, Đấng Mêsia.
Toàn bộ chương hai của Tín biểu phải được đọc dưới ánh sáng này. Toàn bộ công trình của Đức Kitô là sứ vụ phối hợp của Chúa Con và của Chúa Thánh Thần. Ở đây, chúng ta sẽ chỉ đề cập những gì liên quan đến lời Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần và việc Người thực hiện lời hứa đó sau khi Người được tôn vinh.
728 Chúa Giêsu không mặc khải trọn vẹn Chúa Thánh Thần, cho tới khi Người được tôn vinh qua cái Chết và sự Sống lại của Người. Tuy nhiên, Người cũng dần dần gợi ý về Chúa Thánh Thần khi Người giảng dạy dân chúng, khi Người mặc khải Thịt của Người sẽ là của ăn cho thế gian được sống [X. Ga 6,27.51.62-63]. Người cũng gợi ý cho ông Nicôđêmô [X. Ga 3,5-8], cho người phụ nữ Samaria [X. Ga 4,10.14.23-24] và những người tham dự Lễ Lều [X. Ga 7,37-39]. Người nói cách tỏ tường cho các môn đệ của Người nhân khi dạy họ cầu nguyện [X. Lc 11,13] và khi báo trước việc họ phải là nhân chứng cho Người [X. Mt 10,19-20].
729 Chỉ khi đến Giờ Chúa Giêsu phải được tôn vinh, Người mới hứa rằng Chúa Thánh Thần sẽ ngự đến, vì cái Chết và sự Sống lại của Người sẽ là sự hoàn thành Lời đã hứa với các Tổ phụ [X. Ga 14,16-17.26; 15,26; 16,7-15; 17,26]: Thần chân lý, Đấng Bào Chữa khác, sẽ được Chúa Cha ban nhờ lời cầu xin của Chúa Giêsu; chính Ngài sẽ được Chúa Cha sai đến nhân danh Chúa Giêsu; Chúa Giêsu sẽ sai Chúa Thánh Thần từ Chúa Cha mà đến, bởi vì Ngài xuất phát từ Chúa Cha. Chúa Thánh Thần sẽ đến, và chúng ta sẽ nhận biết Ngài, Ngài sẽ ở cùng chúng ta mãi mãi, Ngài sẽ cư ngụ với chúng ta; Ngài sẽ dạy dỗ chúng ta mọi sự và nhắc cho chúng ta nhớ tất cả những gì Chúa Giêsu đã nói, và Ngài sẽ làm chứng cho Đức Kitô; Ngài sẽ dẫn chúng ta đến chân lý trọn vẹn và sẽ tôn vinh Đức Kitô. Còn đối với thế gian, Ngài sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính, và về việc xét xử.
Số 694, 733-736, 1215, 1999, 2652: Chúa Thánh Thần, nước hằng sống, một hồng ân của Thiên Chúa
694 Nước. Trong bí tích Rửa Tội, nước là một biểu tượng nói lên tác động của Chúa Thánh Thần, vì vậy, sau lời khẩn cầu Chúa Thánh Thần, nước trở thành dấu chỉ bí tích hữu hiệu của việc tái sinh: giống như trong lần sinh ra thứ nhất chúng ta được cưu mang trong nước, thì cũng vậy, nước Rửa Tội thật sự nói lên rằng việc chúng ta được sinh vào đời sống thần linh được ban trong Chúa Thánh Thần. Nhưng, “chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí”, “và tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Cr 12,13): Vì vậy, đích thân Thần Khí cũng là Nước hằng sống, chảy ra từ Đức Kitô chịu đóng đinh thập giá [X. Ga 19,34; 1 Ga 5,8] như từ nguồn mạch của mình, và vọt ra thành sự sống vĩnh cửu trong chúng ta [X. Ga 4,10-14; 7,38; Xh 17,1-6; Is 55,1; Dcr 14,8; 1 Cr 10,4; Kh 21,6; 22,17].
733 “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8.16) và tình yêu là hồng ân đầu tiên, chứa đựng tất cả mọi sự khác. Tình yêu này “Thiên Chúa đã đổ vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Ngài ban cho chúng ta” (Rm 5,5).
734 Bởi vì do tội mà chúng ta chết hoặc ít nhất là bị thương, nên hiệu quả đầu tiên của hồng ân tình yêu là ơn tha thứ các tội của chúng ta. Chính “ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần” (2 Cr 13,13) trong Hội Thánh phục hồi những người đã được Rửa Tội trở lại tình trạng “giống như” Thiên Chúa mà họ đã đánh mất vì tội lỗi.
735 Lúc đó Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta “bảo chứng” hoặc “những ân huệ khởi đầu” của phần gia sản của chúng ta [X. Rm 8,23; 2 Cr 1,22]: đó là chính sự sống của Ba Ngôi Chí Thánh, là yêu thương “như chính Ngài đã yêu thương chúng ta” [X. 1 Ga 4,11-12]. Tình yêu này (Đức mến của 1 Cr 13) là nguyên lý của đời sống mới trong Đức Kitô, nay có thể thực hiện được bởi vì chúng ta đã lãnh nhận “sức mạnh của Thánh Thần khi Ngài ngự xuống” (Cv 1,8).
736 Nhờ sức mạnh đó của Chúa Thánh Thần, các con cái Thiên Chúa có thể mang lại hoa trái. Đấng đã tháp chúng ta vào Cây Nho thật, sẽ làm cho chúng ta mang lại hoa trái của Thần Khí, là “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5,22-23). Thần Khí là sự sống của chúng ta; chúng ta càng từ bỏ chính mình [X. Mt 16,24-26], Thần Khí càng làm cho chúng ta hoạt động [X. Gl 5,25].
“Nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta được phục hồi để vào thiên đàng, được dẫn lên Nước Trời, được ban ơn làm nghĩa tử: chúng ta được vững lòng để gọi Thiên Chúa là Cha của mình, và thông phần vào ân sủng của Đức Kitô, được gọi là con cái ánh sáng và dự phần vào vinh quang vĩnh cửu” [Thánh Basiliô Cả, Liber de Spiritu Sancto, 15,36: SC 17bis, 370 (PG 32,132)].
1215 Bí tích này cũng được gọi là “Phép Rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới” (Tt 3,5), bởi vì bí tích này biểu lộ và thực hiện việc sinh ra bởi nước và Thánh Thần, mà nếu không có việc đó thì “không ai có thể vào Nước Thiên Chúa” (Ga 3,5).
1999 Ân sủng của Đức Kitô là một hồng ân nhưng không, Thiên Chúa ban cho chúng ta từ sự sống của Ngài, nhờ Chúa Thánh Thần tuôn đổ vào linh hồn chúng ta để chữa trị nó khỏi tội lỗi và thánh hóa nó: Đó là ơn thánh hóa hay ơn thần linh hóa, được lãnh nhận trong bí tích Rửa Tội. Ân sủng này là nguồn mạch của công trình thánh hóa trong chúng ta [X. Ga 4,14; 7,38-39]:
“Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thụ tạo mới. Cái cũ đã qua và cái mới đã có đây rồi. Mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được giao hòa với Ngài” (2 Cr 5,17-18).
2652 Chúa Thánh Thần là “nước trường sinh”, “tuôn ban sự sống muôn đời” [X. Ga 4,14] vào tâm hồn người cầu nguyện. Chính Ngài dạy chúng ta biết đón nhận nước đó tận nguồn mạch: nơi Đức Kitô. Trong đời sống Kitô hữu, có những mạch dẫn đến nguồn, nơi Đức Kitô đang mong đợi chúng ta để cho chúng ta uống thỏa thuê Chúa Thánh Thần
Số 604, 733, 1820, 1825, 1992, 2658: Thiên Chúa khởi xướng; hy vọng từ Thần Khí
604 Khi trao nộp Con của Ngài vì tội lỗi chúng ta, Thiên Chúa biểu lộ kế hoạch của Ngài là một kế hoạch của tình yêu lân mẫn, đi trước mọi công trạng của chúng ta: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10) [X. 1 Ga 4,19]. “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,8).
733 “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8.16) và tình yêu là hồng ân đầu tiên, chứa đựng tất cả mọi sự khác. Tình yêu này “Thiên Chúa đã đổ vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Ngài ban cho chúng ta” (Rm 5,5).
1820 Từ lúc khởi đầu việc giảng dạy của Chúa Giêsu, đức cậy Kitô Giáo được khai triển trong lời loan báo các mối phúc. Các mối phúc nâng niềm hy vọng của chúng ta hướng lên trời, như lên miền Đất hứa mới; vạch đường tới đó qua những thử thách đang chờ đợi các môn đệ của Chúa Giêsu. Nhưng nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô và của cuộc khổ nạn của Người, Thiên Chúa gìn giữ chúng ta trong niềm hy vọng “không phải thất vọng” (Rm 5,5). Chúng ta có niềm hy vọng “như cái neo chắc chắn và bền vững của tâm hồn”, thả sâu vào “nơi Chúa Giêsu đã vào như người tiền phong mở đường cho chúng ta” (Dt 6,19-20). Đức cậy cũng là vũ khí bảo vệ chúng ta trong cuộc chiến đấu để được cứu độ: “Hãy mặc áo giáp là đức tin và đức mến, đội mũ chiến là niềm hy vọng ơn cứu độ” (1 Tx 5,8). Đức cậy mang lại cho chúng ta niềm vui ngay cả trong thử thách: “Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân” (Rm 12,12). Đức cậy được diễn tả và nuôi dưỡng trong kinh nguyện, nhất là trong Lời Kinh của Chúa, là bản toát yếu của tất cả những gì mà đức cậy khiến chúng ta ước ao.
1825 Đức Kitô đã chịu chết vì yêu mến chúng ta, khi chúng ta còn là “thù nghịch” (Rm 5,10). Chúa đòi chúng ta rằng, cũng như Người, chúng ta phải yêu mến cả kẻ thù của chúng ta [X. Mt 5,44], rằng chúng ta phải trở thành người lân cận cho những kẻ ở xa nhất [X. Lc 10,27-37], rằng chúng ta phải yêu thương trẻ em [X. Mc 9,37] và người nghèo như chính Người [X. Mt 25,40.45].
Thánh Tông Đồ Phaolô đã mô tả một cách tuyệt vời về đức mến: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,4-7).
1992 Sự công chính hóa là công trạng nhờ cuộc khổ nạn của Đức Kitô cho chúng ta, Người là Đấng đã tự hiến trên thập giá như của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa, và Máu Người trở nên dụng cụ đền tội vì tội lỗi của mọi người. Sự công chính hóa được ban nhờ Phép Rửa, là bí tích của đức tin. Nó làm cho chúng ta nên phù hợp với sự công chính của Thiên Chúa, Đấng nhờ quyền năng của lòng thương xót của Ngài làm cho chúng ta nên công chính tự bên trong. Sự công chính hóa có mục tiêu là vinh quang của Thiên Chúa và của Đức Kitô, và hồng ân của đời sống vĩnh cửu. [X. CĐ Triđentinô, Sess. 6a, Decretum de iustificatione, c. 7: DS 1529]
“Nhưng ngày nay, sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện mà không cần đến Luật Môsê. Điều này, sách Luật và các ngôn sứ làm chứng. Quả thế, người ta được Thiên Chúa làm cho nên công chính nhờ lòng tin vào Đức Giêsu Kitô. Tất cả những ai tin đều được như thế, bất luận là ai. Thật vậy, mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do hồng ân Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. Thiên Chúa đã đặt Người làm nơi xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin. Như vậy, Thiên Chúa cho thấy Ngài là Đấngï Công Chính. Trước kia, trong thời Thiên Chúa nhẫn nại, Ngài đã bỏ qua các tội lỗi người ta phạm. Nhưng bây giờ, Ngài muốn cho thấy rằng Ngài vừa là Đấng Công Chính, vừa làm cho kẻ tin vào Đức Giêsu được nên công chính” (Rm 3,21-26).
2658 “Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Ngài ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Một khi được đào tạo nhờ đời sống phụng vụ, việc cầu nguyện sẽ kín múc được mọi sự trong tình yêu mà Thiên Chúa đã yêu mến chúng ta trong Đức Kitô. Tình yêu này giúp chúng ta đáp lại Ngài bằng cách yêu thương như chính Ngài đã yêu thương chúng ta. Tình yêu là nguồn mạch duy nhất của cầu nguyện; ai kín múc nơi nguồn mạch này, người đó đạt tới chóp đỉnh của việc cầu nguyện:
“Lạy Thiên Chúa của con, con yêu mến Chúa, và niềm ao ước duy nhất của con là yêu mến Chúa cho đến hơi thở cuối cùng của đời con. Lạy Thiên Chúa vô cùng khả ái, con yêu mến Chúa. Con thà chết vì yêu mến Chúa, còn hơn là sống mà không yêu mến Chúa. Lạy Chúa, con yêu mến Chúa, và ân sủng duy nhất mà con cầu xin là cho con được yêu mến Chúa muôn đời… Lạy Thiên Chúa của con, nếu miệng lưỡi con không thể lúc nào cũng lặp lại rằng con yêu mến Chúa, con muốn rằng tim con luôn lặp lại lời đó với Chúa theo từng nhịp thở của con”. [Thánh Gioan Maria Viannê, Oratio, apud B. Nodet, Le Curé d’Ars, Sa penséeson coeur (Le Puy 1966) 45]
Bài giảng Đức Thánh Cha - Chúa nhật 3 mùa Chay năm A
Sau đây là những bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong các thánh lễ và các buổi đọc kinh Truyền tin với các tín hữu vào Chúa nhật 3 mùa Chay năm A.
Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)
Suy niệm: Người Do thái thường khinh bỉ và thù nghịch với người Samari. Còn Ðức Giêsu tìm cách tiếp xúc, rao giảng và yêu thương họ. Ngài không kỳ thị và cho họ nhận ra: họ cũng là đối tượng được Thiên Chúa yêu thương. Tất cả mọi người đều được ơn Cứu Ðộ. Ðó là sứ vụ Ðức Giêsu luôn thao thức và mong được hoàn tất. Ðó là lương thực cần thiết để Ngài thi hành trọn ý Cha.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã ban ơn cứu độ cho tất cả mọi người không trừ một ai, với điều kiện chúng con biết nhìn nhận mình tội lỗi, là hư vô và tin vào Chúa. Người phụ nữ Samari, từ người được xin nước trở thành người đi xin nước. Bà xin nước sự sống của Chúa, khi đã nhận ra và tin rằng Chúa là Ðấng Kitô.
Xin Chúa biến đổi chúng con để từ tình trạng tội lỗi, chúng con được tái sinh trong nước sự sống của Chúa. Amen.
Ghi nhớ: “Mạch nước vọt đến sự sống đời đời”.
Suy niệm (Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)
CHIA SẺ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Xh 17,3-7
1. Giả sử anh chị em có một bản đồ sa mạc Xi-nai và cố tìm xem coi Ma-xa và Mơ-ri-va nằm ở chỗ nào trong sa mạc Xi-nai, thì anh chị em sẽ thất vọng hoàn toàn. Tại sao vậy ? Thưa vì đây chỉ là những địa danh biểu tượng mà thôi, ám chỉ đến hai nơi mà dân Ít-ra-en muốn thử thách và gây sự với ông Mô-sê, nghĩa là muốn nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Câu chuyện xảy ra tại Rơ-phi-đim, giữa lòng sa mạc, nằm giữa Ai-cập và Ít-ra-en. Kinh Thánh cho biết : “Họ đã đóng trại ở Rơ-phi-đim, nhưng tại đó không có nước cho dân uống”, mà ở trong sa mạc, không có nước uống đồng nghĩa với cái chết gần kề. Do đó, dân kêu trách ông Mô-sê cũng là kêu trách chính Chúa, bởi vì ông Mô-sê đưa dân ra khỏi Ai-cập để tiến về Đất Hứa là theo lệnh Đức Chúa phán bảo với ông từ bụi cây bốc cháy : “Ngươi hãy đi ! Ta sai ngươi đến với Pha-ra-ô để đưa dân Ta là con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập” (Xh 3,16).
Thái độ của dân Ít-ra-en thật là hung hăng, lời nói thật gay gắt lúc họ chất vấn ông Mô-sê : “Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập để làm gì ? Có phải là để cho chúng tôi, con cái chúng tôi, và súc vật của chúng tôi bị chết khát hay không ?” Khi thấy tình hình ngày càng trở nên nghiêm trọng và nguy hiểm, ông Mô-sê phải cầu cứu Chúa : “Con phải làm gì cho dân này bây giờ ? Chỉ một chút nữa là họ ném đá con.” Đức Chúa phán với ông Mô-sê : “Ngươi hãy đi lên phía trước dân, đem theo một số kỳ mục Ít-ra-en, cầm lấy cây gậy ngươi đã dùng để đập xuống sông Nin, và đi đi. Còn Ta, Ta sẽ đứng ở đằng kia trước mặt ngươi, trên tảng đá ở núi Khô-rếp. Ngươi sẽ đập vào tảng đá. Từ tảng đá, nước sẽ chảy ra cho dân uống.” Nước vọt ra từ tảng đá khiến dân chúng và súc vật uống thoả thuê, đồng thời cũng giúp dân chúng yên tâm, vì có “Đức Chúa luôn ở giữa họ” trên con đường dẫn đưa họ tới tự do sau hơn bốn trăm năm làm nô lệ bên Ai-cập. Đó là điều dân Ít-ra-en phải ghi tâm khắc cốt.
2. Điều này cũng giúp ta hiểu tại sao trong ký ức của dân Ít-ra-en, nơi này không gọi là Rơ-phi-đim nữa, là một trong những nơi dân Ít-ra-en cắm trại, vì sự việc xảy ra tại nơi đây đặc biệt nghiêm trọng, nên ông Mô-sê đã gọi nơi này là “thử thách” và “nổi loạn”, vì dân Ít-ra-en đã dám gây sự và thử thách Đức Chúa khi nói : “Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không ?”
Cám dỗ nghi ngờ Thiên Chúa cũng có thể có nơi mỗi người chúng ta khi chúng ta gặp thử thách gian truân trong cuộc sống đức tin thường ngày. Câu chuyện của hai ông bà tổ tông, A-đam và E-và trong vườn địa đàng xưa luôn là một bài học sống động cho tất cả chúng ta.
Chúng ta hãy cùng nhau xác tín điều này : Thiên Chúa luôn đồng hành, phù hộ và nâng đỡ tất cả chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế đầy khó khăn này. Đừng bao giờ nghi ngờ sự hiện diện và phù trợ của Người, nhưng hãy đặt trọn niềm tin vào Người. Hãy noi gương ông Gióp trong Cựu Ước.
Đáp ca : Tv 94
Thánh vịnh 94 thấm đẫm kinh nghiệm của Ma-xa và Mơ-ri-va, và chúng ta hiểu rõ tại sao chúng ta lại hát thánh vịnh này vào Chúa nhật thứ ba mùa Chay, như là tiếng dội lại của câu chuyện xảy ra tại Ma-xa và Mơ-ri-va mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc 1. Thánh vịnh hôm nay cho thấy cuộc hành trình đức tin của tất cả chúng ta, đó là vấn đề “tin tưởng”, “tín nhiệm”. Đối với dân Ít-ra-en, vấn đề tín nhiệm được đặt ra mỗi khi họ gặp khó khăn trong sa mạc : “Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không ?” Hay nói cách khác, ta có thể đặt trọn niềm tin vào Người không ? Hay ta có thể hoàn toàn trông cậy Người hay không ? Có chắc chắn là Người trợ giúp chúng ta khi chúng ta gặp hiểm nguy không ?
Kinh Thánh cho ta biết đức tin là tin tưởng, tín nhiệm. Vấn đề tin tưởng này dựa vào kinh nghiệm. Đối với dân Ít-ra-en, tất cả bắt đầu với cuộc giải thoát khỏi ách nô lệ Ai-cập, và trải qua nhiều khó khăn, Chúa mới giải thoát dân Người khỏi ách nô lệ Ai-cập, thì không có lý do gì Người lại để họ chết đói, chết khát giữa sa mạc khô cằn, nắng cháy. Do đó, ta có thể cậy dựa vào Người như dựa vào một tảng đá. “Tung hô Người là núi đá độ trì ta.” Đây là một lời tuyên xưng đức tin. Sau câu chuyện không vui ở Ma-xa và Mơ-ri-va, người ta thường gọi Thiên Chúa là Tảng Đá của Ít-ra-en. Đối với một số người, vấn đề đức tin được đặt ra mỗi khi không tìm được câu trả lời cho những vấn nạn thường gặp : chấp nhận việc không thể biết tất cả, không thể hiểu tất cả mọi sự, chấp nhận con đường nhiệm mầu của Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta tin tưởng Người. Chúng ta chỉ còn có thể nói như thánh Phê-rô khi được Chúa Giê-su hỏi : “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Vì chỉ mình Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68).
Trong cuộc sống đức tin, mỗi ngày chúng ta hãy đọc và suy đi nghĩ lại lời thánh vịnh 94 hôm nay : “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa ! Người phán : ‘Các ngươi chớ cứng lòng.’”
Bài đọc 2 : Rm 5,1-2.5-8
Chương 5 đánh dấu một khúc quanh trong thư Rô-ma : bởi vì cho tới đó, thánh Phao-lô nói về quá khứ của nhân loại (những người ngoại giáo cũng như những người có niềm tin) ; nhưng từ nay về sau ngài chỉ nói đến tương lai, một tương lai đã được biến đổi cho những người tin, nhờ sự sống, cái chết và sự sống lại của Đức Ki-tô Giê-su. Để có thể hiểu được tư tưởng của thánh Phao-lô, chúng ta cần đọc bản văn bắt đầu từ phần cuối : thứ nhất, Đức Ki-tô tự nguyện chấp nhận cái chết để cứu chuộc chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những kẻ tội lỗi ; thứ hai, Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta ; thứ ba, từ nay về sau, chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa.
1. “Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những kẻ tội lỗi.” Kiểu nói “vì chúng ta” phải được hiểu là vì ích lợi của chúng ta, nghĩa là qua cái chết trên thập giá, Ðức Giê-su Ki-tô đem lại ơn cứu độ cho chúng ta, chuộc lại ơn làm nghĩa tử cho chúng ta, để mỗi người chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là Áp-ba, Cha ơi ! Tiếng gọi đã mất từ khi ông bà tổ tông của chúng ta, A-đam và E-và phạm tội bất tuân lệnh Chúa trong vườn Ê-đen, vườn địa đàng.
Ta phải hiểu thế nào về câu “ngay khi chúng ta còn là tội nhân” khi chúng ta còn là nô lệ của hận thù, bạo lực bao vây đời sống con người, do đam mê tiền bạc, danh vọng ?
2. “Thánh Thần đã được ban cho chúng ta”, và với Người, chính là tình yêu của Thiên Chúa được đổ vào lòng chúng ta qua cuộc Thương Khó và cái chết của Đức Ki-tô trên thập giá, Thánh Thần của Thiên Chúa được ban tràn đầy cho thế giới. Trong Tin Mừng thứ tư, thánh Gio-an đã nói về vấn đề này vào dịp lễ Lều, khi Người đề cập đến nước hằng sống : “Hôm ấy là ngày bế mạc tuần lề Lều, và là ngày long trọng nhất. Đức Giê-su đứng trong Đền Thờ và lớn tiếng nói rằng : ‘Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống.’” Như Kinh Thánh đã nói : “Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống. Đức Giê-su muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bấy giờ họ chưa nhận được Thần Khí, vì Đức Giê-su chưa được tôn vinh” (Ga 7,37-39). Và, vào lúc Đức Giê-su hấp hối trên thập giá, để minh chứng lời hứa này đã được thực hiện, thánh Gio-an cho biết : “Nhấp xong một chút giấm từ miếng bọt biển có thấm đầy giấm, Đức Giê-su nói : ‘Thế là đã hoàn tất.’ Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.” (Ga 19,30).
3. Thứ ba, từ nay về sau, chúng ta tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô dùng nhiều lần từ “tự hào” trong thư gửi tín hữu Rô-ma, gồm hai điểm : Trước tiên, chúng ta không có lý do gì để tự hào cả, dù chúng ta có làm nhiều việc lành phúc đức đi nữa, vì chúng ta cần nhớ rằng tất cả những gì chúng ta có đều là hồng ân của Chúa, kể cả một nhân đức nào đó chúng ta tập luyện được. Trái lại là điểm thứ hai, chúng ta có quyền tự hào về những ân sủng Chúa ban cho chúng ta kể từ lúc chúng ta trở nên con cái của Người qua bí tích Thánh Tẩy, và Thánh Thần Chúa đã ngự trong chúng ta ; hơn thế nữa, chúng ta biết chúng ta đang chờ đợi vinh quang nào, khi chính Thánh Thần ngự trong lòng chúng ta biến đổi tâm hồn và thân xác chúng ta theo hình ảnh của Đức Ki-tô Phục Sinh. Câu chuyện Chúa Hiển Dung của Chúa nhật tuần rồi, cho ta nếm thử trước vinh quang này.
Bài Tin Mừng : Ga 4,5-42
Trong Kinh Thánh, giếng nước đầu làng hay ở giữa sa mạc nắng cháy đã chứng kiến bao cuộc gặp gỡ dẫn đến hôn nhân hoặc đưa đến một kết thúc tốt đẹp : ơn đức tin như trường hợp người lão bộc của ông Áp-ra-ham vâng lệnh ông chủ về quê cưới vợ cho cậu I-xa-ác là con trai duy nhất của ông Áp-ra-ham và bà Xa-ra. Ông cho lạc đà phục ở ngoài thành, gần giếng nước, vào buổi chiều lúc đàn bà con gái ra múc nước, và tại đó ông đã gặp cô Rê-bê-ca, người trở thành vợ của ông I-xa-ác sau đó ; ông Gia-cóp cũng gặp cô Ra-ken bên bờ giếng, bên bờ một cái giếng ở Pa-lét-tin mà Chúa Giê-su đã gặp và bắt đầu một trong những cuộc đối thoại nổi tiếng nhất trong Tin Mừng Gio-an với một người phụ nữ mà ta gọi là người phụ nữ Sa-ma-ri.
Chúa Giê-su đi ngang qua Sa-ma-ri để trở lại Ga-li-lê ; Người đã rời Giu-đê vì tại đó nhóm Pha-ri-sêu bắt đầu kiếm chuyện với Người. Lúc đó khoảng mười hai giờ trưa. Tại sao ông Gio-an lại nói như vậy ? Thưa vì trong các nước ở vùng sa mạc nắng cháy, mười hai giờ trưa không phải là giờ đi lấy nước ; phải chăng người phụ nữ Sa-ma-ri, vốn không được dân làng đánh giá cao, đành phải chọn thời điểm mười hai giờ trưa đi lấy nước để khỏi phải gặp ai hết, hoặc ông Gio-an muốn cho ta hiểu rằng đó là lúc ánh sáng ngập tràn và ánh sáng của thế giới vừa xuất hiện tại Sa-ma-ri, với việc mặc khải của Đấng Mê-si-a ? Vì dưới con mắt của những người Pha-ri-sêu, Sa-ma-ri cần phải hoán cải.
Mối bất hoà giữa những người Giu-đê và những người Sa-ma-ri đã có từ rất lâu rồi : Về phía Giê-ru-sa-lem, từ lâu người ta đã coi những người Sa-ma-ri như những kẻ lạc giáo, bởi vì một số người trong họ thuộc dòng dõi các dân tộc ngoại giáo đã định cư tại Sa-ma-ri sau khi đế quốc Át-xy-ri chinh phục vùng này. Tuy nhiên, phải thành thật mà nói, họ cũng mạnh mẽ đáp trả lại cư dân Giê-ru-sa-lem, bởi vì họ không chỉ gồm toàn những người do đế quốc Át-xy-ri đưa vào cư ngụ ở đó, nhưng họ cũng là dòng dõi của những chi tộc ở phía Bắc luôn cố gắng trung thành tuân giữ luật Mô-sê như những người đang sống tại Giê-ru-sa-lem ; họ cũng đả kích những người đang sống tại Giê-ru-sa-lem tự cho mình là trong sạch hơn họ. Mối bất hoà ngày càng trở nên nghiêm trọng qua dòng thời gian, và tới thời Chúa Giê-su thì mối bất hoà càng rõ nét hơn. Do đó, ta mới thấy người phụ nữ Sa-ma-ri ngạc nhiên hỏi : “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?” Nhưng vì người phụ nữ này biết lắng nghe, nên Chúa Giê-su có thể ban cho chị ân huệ thật sự : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị”, ân huệ của Thiên Chúa, chính là Chúa Giê-su : điều quan trọng là nhận biết Người ; Chúa Giê-su nói lại điều này trong lời cầu nguyện cuối cùng trong Tin Mừng Gio-an : “Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Giê-su Ki-tô” (Ga 17,3).
Dù bị những người Pha-ri-sêu ở Giê-ru-sa-lem coi là những kẻ lạc giáo, nhưng những người Sa-ma-ri cũng trông chờ Đấng Mê-si-a, họ cũng biết rằng Người sẽ tỏ mình ra cho họ : như người phụ nữ Sa-ma-ri đã nói với Đức Giê-su : “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” Đơn giản chỉ vì chị đã chấp nhận cuộc đối thoại, biết cởi mở, chân thành xin chỉ cho chị biết làm cách nào để đẹp lòng Thiên Chúa, nên chị đã được ban cho ơn hiểu biết Đấng Mê-si-a : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”
Suốt câu chuyện, ông Gio-an cho ta hiểu rằng với sự xuất hiện của Đấng Mê-si-a, bộ mặt của thế giới sẽ thay đổi : tất cả vấn nạn đều có một lời giải đáp. Giờ đã đến, giờ mà toàn thể lịch sử nhân loại đã điểm. Từ nay về sau, việc thờ phượng không phải là vấn đề nơi chốn, đền thờ, núi non. Nước hằng sống vọt lên trong tâm hồn những ai tin : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” Chúng ta cần lưu ý Chúa Giê-su nhấn mạnh đến ân huệ của Thiên Chúa : Với Thiên Chúa Tình Yêu, tất cả đều là ân huệ và tha thứ : người phụ nữ Sa-ma-ri biết rõ điều đó, và chị báo tin cho mọi người biết mình đã gặp Đấng Mê-si-a.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, người phụ nữ Sa-ma-ri đã hoàn toàn thay đổi sau cuộc gặp gỡ với Chúa bên bờ giếng Gia-cóp. Xin Chúa ban cho mỗi người chúng con, khi gặp gỡ Chúa trong bí tích Thánh Thể, cũng biết thay đổi đời sống, để ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa hơn.
Tự vấn :
Chúng ta thử nhìn lại xem mỗi lần chúng ta đi đến nhà thờ gặp gỡ Chúa Giê-su trong thánh lễ, cuộc gặp gỡ này có làm thay đổi cuộc đời chúng ta không ? Có làm cho chúng ta trở nên nhân chứng của Thiên Chúa là Tình Yêu, là Cha giàu lòng thương xót không ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
1. “Theo kiểu của họ, các anh chị em tân tòng nói với chúng ta về tính chất muôn đời mới mẻ của đức tin”
(H. Denis, trong “100 mots pour dire la foi”, Desclée de Brouwer, tr. 119-120).
“Người phụ nữ Sa-ma-ri”. Đối với nhiều người, đó là tên một cửa tiệm lớn ở Paris mà người ta đôi lúc còn nhắc đến thời còn bán đồ cũ. Nếu từ này còn có thể khiến ai đó chú ý đến chương bốn của Tin Mừng thánh Gio-an, thì chúng ta tin chắc rằng phải có một cái gì đó đặc biệt có sức thu hút.
Nói là “thu hút” nhưng trong câu chuyện Tin Mừng không hề có vấn đề thu hút gì cả. Đúng hơn đây là một sự tiếp cận, một sự khám phá và là một lời mời gọi không thể chối từ. Người phụ nữ Sa-ma-ri ở đây đúng là mẫu mực, là điển hình của người tân tòng đang dấn thân tìm gặp Đức Giê-su.
Chị ta lại chịu hai mặt bất lợi : là phụ nữ và là thành phần của một sắc dân bị người Do-thái miệt thị (bằng chứng về sự xuất hiện và có mặt của những cộng đoàn Ki-tô hữu tại Sa-ma-ri ngay vào thời Tin Mừng thứ tư đang được biên soạn). Nhưng đó không thành vấn đề, Đức Giê-su vẫn tìm cách lôi kéo người phụ nữ này như bằng một sức hấp dẫn vô hình.
Cách tiếp cận thật lạ lùng : Người khách lạ đã mỏi mệt dừng chân bên bờ giếng xin người phụ nữ chút nước uống. Đấng có quyền năng ban phát mọi sự, nay lại làm kẻ ngửa tay xin. Thiên Chúa luôn rộng ban ơn của Người cho tất cả những ai biết sẵn sàng cho đi chút của cải mình có. Người tân tòng sẽ tìm thấy không phải là một vị Thiên Chúa thích huỷ diệt để rồi lại ban phước, nhưng một Thiên Chúa nghèo, dường như phải cần đến loài người.
Thế rồi câu chuyện bỗng đổi chiều, giờ đây cái nhìn của Đức Giê-su soi thấu vào ngõ ngách đời tư của người phụ nữ. Cái nhìn của loài người chỉ dừng lại ở bề ngoài, nhưng Thiên Chúa nhìn sâu vào cõi lòng. Người tân tòng phải chăng là kẻ mà Đức Giê-su đã trở nên thiết thân hơn chính bản thân họ ?
Đến đây, người phụ nữ ngỡ ngàng nhận ra vị ngôn sứ. Chị biết rằng dòng Nước Hằng Sống kia có thể rửa sạch mọi bất trung tội tình của chị. Kẻ sắp lãnh nhận phép Thánh Tẩy cũng thế, họ khát khao dòng nước rồi đây sẽ cho phép họ thầm thì kêu tên Thiên Chúa là Cha.
Chưa hết, người phụ nữ còn bỏ lại tất cả, cả cái vò nước, cả những người tình, cả cuộc đời chị, để loan báo cho mọi người về cuộc gặp gỡ có tính chất quyết định của chị.
Chúng ta có khả năng để lắng nghe tiếng của những anh chị em tân tòng nói với chúng ta, theo cách của họ, sau khi đã giã từ cuộc đời dĩ vãng, về cái mới mẻ muôn thuở của đức tin ?”
2. “Người phụ nữ bỏ quên vò nước bên bờ giếng”
(J. Cl. Giroud, trong “Dossiers de la Bible”, tr. 22)
Bên bờ giếng, có một khách bộ hành mỏi mệt dừng chân, chân lý đã vọt lên từ những lời ông nói. Cũng bên bờ giếng đó, người phụ nữ nọ đã để lại cái vò nước của mình, bởi từ nay nó chẳng giúp gì cho chị đón nhận hồng ân Thiên Chúa ban. Cái vò nước bỏ quên đó sẽ mãi mãi nói với chúng ta về một người phụ nữ mà số phận từng bị giam hãm trong đủ thứ công việc hằng ngày, trong những quan hệ chẳng tới đâu với một loạt đời chồng, nay bỗng tìm thấy ý nghĩa cho đời mình qua cuộc gặp gỡ với Đức Giê-su, qua những trao đổi với Người. Cũng thế đối với những người Sa-ma-ri kia, những kẻ đã biết đón nhận người khách đường xa không hẹn mà đến này.
Như thế, chính qua những chuyện của đời thường như : ăn, uống, cuộc sống chung với một người đàn ông, cố gắng quay về với Thiên Chúa … mà con người nghe được tiếng nói của Thánh Thần. Nhưng ở đây và lúc này, Người lại đến như một ân ban qua những bất trắc khôn lường của lời nói, qua thái độ chân thành của các bên đối thoại, qua những khoảnh khắc thinh lặng để cho chân lý lên tiếng nói.
Suy niệm (Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)
Sợi chỉ đỏ:
- Bài đọc Cựu Ước: Vâng lệnh Thiên Chúa, Môsê lấy gậy đập lên tảng đá, và nước đã vọt ra.
- Bài Tin Mừng: Đức Giêsu nói với người phụ nữ Samari: “Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước chảy vọt, mang lại sự sống muôn đời".
- Bài Thánh thư: Thánh Phaolô giải thích “nước" ấy chính là Thánh Thần và tình yêu: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu vào lòng ta, nhờ Thánh Thần Ngài ban cho ta".
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Hôm nay chúng ta họp nhau lại như dân do thái ngày xưa trong sa mạc. Họ đã trải qua nhiều gian khổ, nhất là cái khổ thiếu nước. Trong sa mạc của cuộc sống ngày nay, chúng ta cũng chịu nhiều gian khổ và cũng cảm thấy khát, khát vì biết bao ước vọng không được thỏa mãn. Lời Chúa hôm nay cho biết Đức Giêsu là nguồn nước hằng sống. Vậy chúng ta hãy đến với Ngài và mở rộng lòng ra để Ngài giải khát cho chúng ta.
II. GỢI Ý BỊ SÁM HỐI
- Như dân do thái ngày xưa trong sa mạc, nhiều khi chúng ta cũng hoài nghi nghĩ rằng Thiên Chúa đã vắng mặt.
- Như dân do thái ngày xưa, nhiều lần chúng ta đã trách móc Thiên Chúa, nhất là khi Ngài không thỏa mãn ước muốn của chúng ta.
- Chúng ta thường khao khát những sự trần gian chứ không biết khao khát những điều thuộc về Thiên Chúa.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc Cựu Ước (Xh 17,3-7)
Thiên Chúa đã giải phóng dân Israel khỏi ách nô lệ Ai cập bằng những hành động diệu kỳ, nhất là biến cố Thiên Thần vượt qua các gia đình do thái và biến cố vượt qua Biển. Ban đầu dân Israel rất phấn khởi và sùng mộ Thiên Chúa. Nhưng những khổ cực và thiếu thốn trong cuộc hành trình qua sa mạc đã dần dần khiến họ nản lòng: họ thường càu nhàu, đòi trở lại Ai cập, nhiều khi còn nổi loạn. Tuy nhiên Thiên Chúa kiên nhẫn đã dùng chính hoàn cảnh thiếu thốn ấy để giáo dục họ hiểu biết đâu là điều thiết yếu trong cuộc sống.
- Điều thiết yếu thứ nhất là đức tin: Ngài muốn họ tin rằng sự cứu rỗi của họ ở đàng trước chứ không phải ở đàng sau: đàng trước là Đất hứa, đàng sau là ách nô lệ Ai cập. Do đó họ có dám tin cậy vào Ngài để tiến tới phía trước không mặc dù hiện tại họ chỉ thấy toàn khổ cực thiếu thốn. Hay họ thà quay lại đàng sau để sống kiếp nô lệ với cơm thừa canh cặn ở Ai cập.
- Điều thiết yếu thứ hai là đức cậy: từ trước tới nay Thiên Chúa chăm lo cho họ đủ mọi điều: muốn bánh thì có manna, muốn thịt thì có chim cút. Nay Ngài để họ thiếu nước, thế là niềm trông cậy của họ lung lay, họ hỏi một cách thách thức “Có thực có Thiên Chúa hay không ?" Sở dĩ họ hỏi vậy là vì họ nghĩ rằng Thiên Chúa là một kẻ có nhiệm vụ lo lắng cho họ. Nói cách khác, họ coi Thiên Chúa như một người đối diện với họ (le vis à vis). Thực ra Thiên Chúa không phải là một người đối diện, dù người đó có quyền lực bao nhiêu đi nữa. Thiên Chúa còn hơn thế nhiều. Bài Tin Mừng hôm nay mạc khải Thiên Chúa thực ra là thế nào.
2. Đáp ca (Tv 94)
Thánh vịnh này nhắc lại cuộc nổi loạn của dân do thái trong sa mạc khi họ thiếu nước. Chỉ vì khó khăn trước mắt, họ đã quên hết biết bao việc kỳ diệu mà Thiên Chúa đã làm cho họ. Thánh vịnh kêu mời con người nhớ lại những ơn lành của Thiên Chúa. Đó chính là những tiếng kêu gọi của Ngài, mỗi người hãy nhận ra và ngoan ngoãn đáp lại.
3. Bài Tin Mừng (Ga 4,5-42)
- Đức Giêsu ban đầu xin người phụ nữ Samaria cho Ngài uống nước, sau đó tự mặc khải Ngài chính là Nước trường sinh “Ai uống nước này sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời".
- Qua lời trên, Đức Giêsu cho biết Thiên Chúa không phải là một kẻ đối diện mà là Đấng muốn ở tận trong con người chúng ta, để làm thành một nguồn nước vọt ra sự sống muôn đời. Ai tin vào Ngài và trông cậy nơi Ngài thì có Ngài ở trong người ấy. Ngài ấy sẽ có một sức sống phong phú chẳng những cho chính bản thân mà còn cho người khác nữa.
- Câu chuyện người phụ nữ Samaria là một thí dụ điển hình: Khi bà đã tin vào Đức Giêsu thì bà trở thành người loan Tin Mừng cho những người khác trong làng. Những người này ban đầu tin vì nghe theo lời chị. Nhưng sau đó trong lòng họ cũng có một nguồn nước sống. Họ nói “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Ngài thật là Đấng cứu độ trần gian": Đức Kitô đã cự ngụ ngay trong lòng họ.
4. Bài Thánh thư: Rm 5,1-2.5-18
Thánh Phaolô là người đã sống cái cảm nghiệm của người phụ nữ Samaria. Từ khi tin Đức Kitô, ngài đã nói “Không phải tôi sống mà Đức Kitô sống trong tôi". Với Đức Kitô sống trong mình, thánh Phaolô đã trở thành một nguồn nước phong phú cứ muốn vọt ra. Ngài đi khắp nơi loan báo Tin Mừng về Đức Giêsu Kitô. Mặc dù gặp bao gian khổ, Ngài không thể không loan báo Tin Mừng ấy được.
Phaolô diễn tả nguồn nước sống trong con người là:
- Thánh Thần: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Ngài ban cho chúng ta" (câu 5).
- Ơn sủng của Thiên Chúa ban nhờ Đức Giêsu: “Ơn sủng nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn (tội lỗi do Adam) biết mấy cho muôn người" (câu 15)
Suy niệm (Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)
CHO TÔI CHÚT NƯỚC UỐNG
Trong Chúa Nhật thứ ba Mùa Chay,
chúng ta chiêm ngắm Đức Giêsu gặp gỡ người phụ nữ xứ Samari.
Chúng ta học được nơi Đức Giêsu cách gặp gỡ tha nhân.
Và chúng ta cũng thấy bóng dáng mình nơi người phụ nữ.
Đức Giêsu đến với vùng đất dân ngoại
Đức Giêsu không ngại đi băng qua vùng Samari.
Nhiều người Do-thái tránh không đi qua vùng này,
vì đất của người Samari bị họ coi là ô uế.
Thật ra dân Samari trước đây cũng là người Do-thái,
nhưng họ đã sống chung đụng nhiều với dân ngoại.
Sau đó họ tách thành một dân riêng,
không thờ phượng Thiên Chúa ở Đền thờ Giêrusalem nữa,
nhưng ở trên ngọn núi Garidim.
Người Do-thái tỏ ra khinh bỉ và có thái độ thù nghịch với người Samari.
Tuy nhiên, Đức Giêsu không khinh dân Samari, hay coi đất của họ là ô uế.
Đức Giêsu vượt qua những ngăn cách về văn hoá, tôn giáo, quốc gia
Tại giếng của ông Gia-cóp, lúc giữa trưa nắng gắt,
Đức Giêsu mệt mỏi nên ngồi nghỉ chân (Ga 4,6).
Tình cờ có một phụ nữ Samari đến lấy nước.
Chuyện chị đi lấy nước một mình vào giờ này là chuyện lạ,
vì phụ nữ thường không ra giếng vào giữa trưa.
Đức Giêsu chủ động bắt chuyện với chị,
dù người Do-thái không giao thiệp với người Samari.
Hơn nữa, vào thời Đức Giêsu,
người phụ nữ không được tiếp xúc với người ngoài gia đình của mình.
Đức Giêsu dám gặp gỡ một phụ nữ, mà lại là một phụ nữ người Samari.
Hành động này của Ngài đã làm cho các môn đệ ngạc nhiên (Ga 4,27).
Đức Giêsu đến như một người cần giúp đỡ
"Chị cho tôi uống với !" (Ga 4,7).
Câu nói đầu tiên của Đức Giêsu với người phụ nữ Samari là một lời xin.
Ngài xin nước của chị vì Ngài khát.
Đức Giêsu không đến như một người có cái gì để cho,
nhưng đến như một người cần sự giúp đỡ.
Xin là cho thấy mình cần đến người khác, và tin vào lòng quảng đại của họ.
Chị phụ nữ này hẳn đã ngạc nhiên biết bao
khi thấy một người đàn ông Do-thái xin mình nước uống (Ga 4,9).
Đức Giêsu không hề coi nước giếng này là ô uế
bởi lẽ nó được kéo lên bởi một phụ nữ ô uế,
trên một vùng đất ô uế.
Lời xin khiêm hạ của Ngài đã làm cho cuộc đối thoại trở nên dễ dàng, cởi mở.
Đức Giêsu đi từ chuyện Ngài xin chị nước giếng
đến chuyện Ngài hứa cho chị một thứ nước khác : nước hằng sống,
nước uống vào sẽ muôn đời không còn khát nữa (Ga 4,14).
Đức Giêsu khơi dậy nơi chị lòng khao khát về thứ nước kỳ diệu ấy.
Cuối cùng, chính chị đã xin Ngài cho chị thứ nước đó,
vì chị tưởng đó là thứ nước giúp chị khỏi phải đi kéo nước nữa (Ga 4,15).
Đức Giêsu quan tâm đến đời sống riêng tư của người đối diện
Khi cuộc đối thoại đã tương đối cởi mở hơn,
Đức Giêsu gợi lên chuyện chồng con của chị.
Ngài cho thấy mình biết rõ hoàn cảnh khó khăn của chị.
Ngài thông cảm với việc chị đã có năm đời chồng,
và người chị đang chung sống cũng không phải là chồng của chị (Ga 4,18).
Hiểu biết chính xác về chị của một người xa lạ tình cờ gặp bên giếng
đã làm chị kinh ngạc.
Chị cảm thấy ông này không phải là một người Do-thái bình thường,
nhưng là một vị ngôn sứ của Thiên Chúa (Ga 4,19).
Đức Giêsu bàn đến vấn đề người kia quan tâm
Khi bắt đầu tin rằng người đang nói với mình là một vị ngôn sứ,
chị lập tức chuyển câu chuyện sang đề tài tôn giáo.
Chị đặt vấn đề về nơi thờ phượng đích thật:
Nên thờ phượng ở Giêrusalem hay trên núi Ga-ri-dim (Ga 4,20)?
Đây là một đề tài tranh cãi giữa người Do-thái với người Samari.
Đức Giêsu đã soi sáng cho chị về một chuyện quan trọng hơn:
thế nào là việc thờ phượng đích thực dành cho Thiên Chúa (Ga 4,21-24).
Khi chị nói lên niềm mong chờ của chị, cũng là của những người Samari,
chờ Đấng Mêsia đến để Ngài mặc khải cho họ mọi sự,
thì Đức Giêsu đã cho chị biết :
"Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây" (Ga 4,26).
Lần đầu tiên Đức Giêsu minh nhiên nhận mình là Đấng Mêsia.
Ngài không chỉ là một ngôn sứ như chị nghĩ.
Người phụ nữ Samari trở thành người loan báo Tin Mừng
Chúng ta không rõ chị tin Đức Giêsu là Đấng Mêsia đến mức nào,
nhưng chắc chắn lòng chị đang cảm nếm một niềm vui khôn tả.
Chị hạnh phúc vì gặp được một người biết cả quá khứ và hiện tại của chị,
một người đón nhận tất cả thân phận phụ nữ của chị,
với những bóng tối và buồn đau.
Chính vì thế chị lập tức muốn chia sẻ niềm vui này cho dân thành của chị.
Để vò nước lại, chị vội vã đi về thành mà hô hào mọi người:
"Đến mà xem, có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm.
Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?" (Ga 4,29).
Đây thật là một lời mời đầy phấn khởi và lôi cuốn.
Hãy đến mà gặp một con người biết tỏ tường mọi sự tôi đã làm.
Biết đâu ông ấy chính là Đấng Mêsia mà chúng ta hằng mong đợi?
Nghe lời hô hào của chị, người dân đã ra khỏi thành để đến gặp Đức Giêsu.
Như thế từ một người được nghe Đức Giêsu loan báo Tin Mừng,
chị đã trở thành một người đi loan báo Tin Mừng cho người khác.
Chị đã có kinh nghiệm được gặp
và được nghe người đàn ông ngồi bên bờ giếng.
Nay chị cũng muốn mọi người trong thành
cũng có kinh nghiệm tương tự như mình : Hãy đến mà xem.
Chị đã thành công trong việc lôi kéo người ta đến với Đức Giêsu.
Nhiều người Samari đã đến gặp Đức Giêsu và tin vào Ngài,
vì họ tin vào lời làm chứng của người phụ nữ :
"Ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm" (Ga 4, 39).
Ngay cả một người có đời sống không gương mẫu
cũng có thể đi loan báo Tin Mừng,
cũng có thể là trung gian cho cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và nhiều người khác.
Người phụ nữ làm trung gian để người khác gặp Đức Giêsu
Người vùng Samari đã tin vào Đức Giêsu
trước tiên là nhờ lời chứng của người phụ nữ.
Họ đã đến gặp trực tiếp Đức Giêsu, và cũng bị lôi cuốn bởi con người Ngài,
đến nỗi họ xin Ngài ở lại với họ (Ga 4, 40).
Hai ngày ở lại với dân Samari là hai ngày trò chuyện và lắng nghe.
Đức Giêsu đã trò chuyện với người phụ nữ bên bờ giếng,
bây giờ Ngài trò chuyện với dân vùng Samari tại chính thành phố của họ.
"Số người tin vì lời Đức Giêsu nói còn đông hơn nữa" (Ga 4,41).
Chị phụ nữ đã làm xong nhiệm vụ của mình, nhiệm vụ giới thiệu Đức Giêsu.
Chị chấp nhận rút lui,
và hẳn chị rất vui sướng khi thấy người ta đến với Đức Giêsu và nghe lời Ngài.
Chị đâu có buồn khi người ta nói với chị :
"Chúng tôi tin, không còn phải vì lời chị kể nữa !
Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng
Người thật là Đấng cứu độ trần gian" (Ga 4,42).
Người loan báo Tin Mừng có lúc phải rút lui
để cho Chúa và con người gặp nhau.
Lời loan báo của tôi có lúc phải nhường bước
để cho Lời của Chúa nói trực tiếp với lòng mỗi người.
Trân quý giá trị của mỗi cuộc gặp gỡ cá nhân
Chị phụ nữ Samari tin Đức Giêsu là một vị ngôn sứ.
Sau đó Đức Giêsu nhận mình là Đấng Mêsia.
Cuối cùng dân vùng Samari tin Đức Giêsu là Đấng cứu độ cho cả thế giới.
Tất cả khởi đi từ một cuộc gặp gỡ riêng tư bên bờ giếng, lúc chính ngọ.
Ai có ngờ một cuộc gặp gỡ nhỏ bé như thế
lại có thể đem đến một hoa trái lớn lao như vậy.
Chúng ta cần biết quý những cuộc gặp gỡ cá nhân,
coi đó như những bước chuẩn bị cho Đức Giêsu đến với một tập thể.
"Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái!" (Ga 4,35).
Hôm nay Chúa Giêsu vẫn nói với chúng ta như thế.
Ngài chỉ cho chúng ta những đồng lúa chín vàng,
đã có những người khác gieo trồng và làm lụng vất vả.
"Thầy sai anh em đi gặt những gì anh em đã không vất vả làm ra;
còn anh em lại được vào hưởng kết quả công lao của họ" (Ga 4,38).
Suy niệm (Lm. Nguyễn Vinh Sơn, SCJ.)
Câu chuyện
Nước là một ơn huệ quý báu nhất mà Tạo Hóa ban cho vạn vật, nước gần gũi với cuộc sống con người. Theo các nhà khoa học, cuộc sống trên trái đất bắt nguồn từ trong nước. Tất cả các sự sống trên trái đất đều phụ thuộc vào nước và vòng tuần hoàn nước. Trái đất chắc hẳn sẽ là một nơi không thể có sự sống được nếu không có nước. Điều này như là một chân lý đã xác định qua những nghiên cứu khoa học và vì thế khi thám hiểm các hành tinh khác trong vũ trụ, các nhà khoa học với bước đi đầu tiên tìm kiếm sự hiện hữu của nước như là bước khởi đầu tìm sự sống.
Nước được dùng trong các lãnh vực như: nước sử dụng trong công nghiệp từ lâu như là nguồn nhiên liệu (cối xay nước, máy hơi nước, nhà máy thủy điện), là chất trao đổi nhiệt. Nước dùng trong nông nghiệp cày cấy như là điều kiện bậc nhất trong gieo trồng canh tác nên dân gian Việt Nam có câu: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”.
Suy niệm
Trong lịch sử cứu độ, hình ảnh nước chảy ra từ tảng đá nuôi dân Chúa trong sa mạc đã nói lên ý nghĩa Thiên Chúa là mạch nước hằng sống cho dân Ngài (Xh 17,6). Dân Chúa rời bỏ Thiên Chúa, nghĩa là làm cạn nước hằng sống và tự cắt đứt nguồn nước vĩnh cửu, như Lời Chúa phán qua ngôn sứ Giêrêmia (x. Gr 2,13; 17,13).
Để được vào nước Thiên Chúa, con người phải đi qua nước được thánh hóa bằng Thánh Thần (nước rửa tội), vì lẽ đó Đức Giêsu nói với ông Nicôđêmô: “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí” (Ga 3,5). Khi người phụ nữ thành Samaria đi múc nước cho nhu cầu sự sống hàng ngày, Đức Giêsu xin chị nước uống bên bờ giếng Giacóp: “Chị cho tôi xin chút nước uống” và Chúa khẳng định sự hiện hữu của nước hằng sống: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và ai là người nói với chị: Cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị nước hằng sống”. (x. Ga 4,7-10). Chúa Giêsu khẳng định nước này hiệu nghiệm hơn nước tự nhiên, đưa đến sự sống bất diệt: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời” (Ga 4,13-14).
Thiên Chúa luôn là mạch nước hằng sống, Chúa Giêsu còn minh định, Ngài là dòng nước hằng sống tuôn trào của Thiên Chúa: “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống!”, như Kinh Thánh đã nói: “Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống” (Ga 7,38), từ trái tim Con Thiên Chúa, trên đồi Canvê (x. Ga 19,34). Thánh Gioan tông đồ đã được thị kiến nguồn suối nước vĩnh cửu phát xuất từ Cha và thực hiện nơi con (x. Kh 22,1). Và được trao ban cách quảng đại vô bờ, luôn tuôn tràn nuôi dưỡng dân Ngài trong mọi thời đại (x. Kh 21,6).
Từ câu chuyện xin nước uống, Chúa dẫn đưa người phụ nữ Samaria đến nước hằng sống và chị đã mở tâm hồn đầy khát khao. Sự khát khao được no thỏa khi chị đã nhận ra ơn cứu độ: Từ việc coi Chúa Giêsu chỉ là một người Do Thái bình thường, đến việc nhận ra Chúa là một ngôn sứ: “Tôi thấy ông thật là một ngôn sứ” (Ga 4,19), và cuối cùng tin Chúa là Ðấng Cứu Thế khi tự chất vấn mình và mọi người về niềm tin vào Ngài: “Ông ấy không phải là Ðấng Kitô sao ?” (Ga 4,29). Mạch nước hằng sống đang chảy vào tâm hồn khát khao của chị, như Ngài đã hứa “Nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt đem lại sự sống đời đời”(Ga 4,14).
Từ một người đàn bà xa lạ, chị đã trở nên môn đồ của Chúa qua việc để lại vò nước và chạy về thành loan báo cho mọi người: “Mau hãy đến xem”... (Ga 4,29). Chính nước hằng sống đã thanh tẩy tâm hồn chị phụ nữ xứ Samaria, mọi bất hòa hận thù giữa người Samaria và Do Thái nơi chị đã tan biến vì được nước hằng sống thanh tẩy. Chính nước hằng sống như Chúa Giêsu nói: Sẽ xóa mọi dị biệt, mọi ngăn cách với nhau, mọi biên giới để cùng thờ phượng Thiên Chúa trong chân lý và sự thật (x. Ga 4,21-24).
Tâm điểm của nước hằng sống như Gioan Scot Erigène đã suy niệm: “Nước tự nhiên chạy về chỗ trũng, nước vĩnh cửu tuôn trào hướng lên cao, đưa tới vinh quang và hạnh phúc vĩnh cửu cho những ai đến uống”.
Ý lực sống
“Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong”
(Tv 42,2).
Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật: Mùa Chay bên giếng của sự thật
.png)
Tác giả: Viện phụ Marion Nguyen
Xuân Đại (TGPSG) biên dịch từ Vatican News
TGPSG/Vatican News -- Khi Giáo hội cử hành Chúa Nhật III Mùa Chay, Viện phụ Marion Nguyen chia sẻ suy niệm với chủ đề: “Mùa Chay bên giếng của sự thật.”
Trong Tin Mừng về người phụ nữ Samari, chính diễn tiến của cuộc đối thoại cho thấy sự kiên nhẫn của Đức Kitô khi Ngài dẫn dắt một linh hồn trở về với Thiên Chúa. Mùa Chay chính là công trình ấy.
Đức Giêsu bắt đầu bằng một lời dường như rất bình thường: “Xin cho tôi chút nước uống.” Lúc đầu, cuộc đối thoại chỉ dừng lại ở bề mặt: những câu hỏi về khác biệt sắc tộc, về giếng của Giacóp, và về cách thức múc nước. Phần lớn câu chuyện xoay quanh những điều bên ngoài tâm hồn: “Ông không có gầu… Ông lớn hơn tổ phụ Giacóp của chúng tôi sao?”
Sau đó, Người trở lại với động lực ban đầu đã đưa chị đến giếng, nhưng lần này kèm theo một lời hứa: “Ai uống nước tôi cho sẽ không bao giờ còn khát nữa.” Chị đáp lại với sự tò mò: “Thưa ông, xin cho tôi thứ nước ấy.”
Khoảnh khắc quyết định đến khi Đức Giêsu nói với chị: “Hãy đi gọi chồng chị rồi trở lại đây.”
Chị trả lời đơn sơ: “Tôi không có chồng.”
Đó là một lời nói ngắn gọn, nhưng hoàn toàn chân thật.
Ngay lúc ấy, cuộc đối thoại đổi hướng.
Đức Giêsu có thể viện dẫn lề luật hoặc trực tiếp đối diện với quá khứ của chị, nhưng Người không làm thế.
Người xác nhận sự thật nơi chị: “Chị nói đúng: ‘Tôi không có chồng.’”
Truyền thống các Giáo phụ lưu ý đến sự tiết độ phi thường này.
Đức Kitô chờ đợi dấu hiệu nhỏ bé nhất của sự chân thành và xây dựng trên đó. Một lời chân thật duy nhất của chị trở thành cánh cửa để ân sủng bước vào. Người phụ nữ cảm nhận rằng một điều sâu xa vừa xảy ra. Chị nói: “Thưa ông, tôi thấy ông là một vị ngôn sứ.” Từ đó, cuộc đối thoại được nâng lên những vấn đề thiêng liêng.
Chị hỏi về việc thờ phượng: phải thờ phượng trên núi này hay tại Giêrusalem.
Đức Giêsu nâng chị vượt lên khỏi câu hỏi về địa điểm: “Đã đến giờ, và chính là lúc này, khi những kẻ thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và sự thật.”
Như thánh Augustine of Hippo suy niệm, việc thờ phượng này không còn gắn với nơi chốn hay lễ tế nghi thức, nhưng phát xuất từ trái tim, từ linh hồn nội tâm hoàn toàn hướng về Thiên Chúa.
Đồng thời, các Giáo phụ, trong đó có Theophylact of Ohrid, nhấn mạnh rằng việc thờ phượng ấy phải chân thành: chân thật, không che đậy và đích thực.
Người phụ nữ Samari thể hiện điều đó: chị nói thật về cuộc đời mình, và chính vì sự thật ấy mà Sự Thật tự mặc khải cho chị: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị.”
Kết thúc cuộc gặp gỡ, chị bỏ lại vò nước của mình. Các Giáo phụ nhìn thấy trong chiếc vò ấy biểu tượng của đời sống cũ: vòng lặp mệt mỏi của cơn khát và những cố gắng bất thành để thỏa mãn nó. Chị bỏ nó lại vì đã khám phá một giếng nước mới.
Linh hồn nào nói sự thật trước Đức Kitô sẽ khám phá rằng lòng thương xót đã chờ sẵn. Khi trái tim gặp gỡ lòng thương xót ấy, những chiếc bình cũ của đời sống được lặng lẽ đặt sang một bên.
Người phụ nữ ấy đi đến bờ giếng như một người Samari và đã trở về làng như một tông đồ. Mỗi Mùa Chay, Đức Kitô gặp chúng ta bên những giếng nước của riêng mình và chờ đợi một lời chân thật.
Tin liên quan
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Bảy tuần 2 mùa Chay (Lc 15,1-3.11-32)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Sáu tuần 2 mùa Chay (Mt 21,33-43.45-46)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Năm tuần 2 mùa Chay (Lc 16,19-31)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Tư tuần 2 mùa Chay (Mt 20,17-28)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Ba tuần 2 mùa Chay (Mt 23,1-12) - Khiêm hạ
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Hai tuần 2 Mùa Chay (Lc 6,36-38)
- Lời Chúa hằng ngày: Chúa nhật 2 mùa Chay năm A (Mt 17,1-9)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Bảy tuần 1 mùa Chay (Mt 5,43-48)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Sáu tuần 1 mùa Chay (Mt 5,20-26)
- Lời Chúa hằng ngày: Thứ Năm tuần 1 mùa Chay (Mt 7,7-12)

Bài đăng ngày
-64x64.png)


